Friday, January 25, 2008

Abalone - Bào ngư

Bào ngư, tiếng Anh gọi là abalone, được xếp vào loại đồ ăn quí hiếm tại các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Lần đầu tiên chúng tôi được nhìn thấy bào ngư là lần xuống đảo Flinders của Tasmania cuối năm 2002. Đó cũng là lần thăm Australia đầu tiên của chị Thùy Phương. Xuống đảo Flinders (khác với Flinders ở Melbourne) là cả một câu chuyện dài và thú vị, chúng tôi sẽ quay trở lại sau. Bào ngư ở Australia có hai loại chính, một loại màu đen (black lip) và một loại màu xanh (green lip). Loại bắt được dưới Tasmania là màu xanh, giá thành đắt hơn hẳn loại màu đen (ăn thì thấy không khác biệt là mấy). Loại màu xanh thường sống ở vùng nước sâu và lạnh.



Bào ngư đen (Bắt tại Melbourne)

Bào ngư xanh (Source: Google)

Sau khi từ Tasmania trở về, tình yêu với biển cả của tôi có thể nói là tăng đột biến J. Vốn dĩ có gốc gác là dân chài lưới, có lẽ tinh yêu biển của tôi đang ngủ yên trong một góc nào đó, đột nhiên bị đánh thức. Cái nhìn về biển của tôi cũng thay đổi. Đối với riêng tôi, khái niệm về biển đẹp giờ đây không còn là bờ cát trắng dài và phẳng như trong các bức ảnh chụp quảng cáo du lịch. Biển đẹp phải là biển có đá ngầm, có nhiều sinh vật biển, có rong tảo, nói chung là phải có một cuộc sống ở phía dưới mặt nước. Trở về Melbourne, tôi bắt đầu học và đi lặn với câu lạc bộ lặn của trường đại học Melbourne. Một thế giới mới mở ra trước mắt, kì ảo và sống động, đẹp không tả được. Ấy chết, lại lạc đề, lặn lội cũng lại là một câu chuyện dài, tôi xin tập trung vào bào ngư trong bài viết này.

Bào ngư ở Melbourne toàn là bào ngư đen, tôi nghe nói có thể có bào ngư xanh ở đâu đó, nhưng chưa gặp bao giờ. Bào ngư bám ở trên đá, nếu nhìn quen thì cũng dễ phát hiện ra (qua hàng lỗ thở trên bề mặt của vỏ).

Chỗ lặn bắt bào ngư ưa thích của tôi là Red Cliff. Sở dĩ nơi này lại có cái tên như vậy là vì mỏm núi ở đây chuyển từ màu vàng sang màu đỏ khi mặt trời xuống. Chất liệu của ngọn núi này là đất sét, thế nên mỗi khi mưa to, hình dáng của mỏm núi lại thay đổi một chút do đất sét bị nước cuốn trôi xuống phía dưới.

Bãi cát ưa thích của chúng tôi tại Red Cliff

Dưới những cây dong biển là cả một thế giới của bào ngư.



Những kẻ thù chính của bào ngư có thể kể đến cá, cua biển, tôm biển, và một loại động vật ít người có thể nghĩ đến: sao biển. Dưới đây là một đoạn video ngắn tôi quay được trong một lần đi lặn, cho thấy một con sao biển đang tìm cách xơi tái anh bạn bào ngư, còn anh bạn bào ngư thì đang chạy trốn với tốc độ đáng kinh ngạc.

Nấu bào ngư thì có lẽ người tàu nấu ngon nhất. Họ có một món bào ngư hầm với thuốc bắc, thấy bảo rất ngon, mà chúng tôi chưa ăn thử lần nào. Thường bắt được bào ngư, chúng tôi làm cháo bào ngư với sườn, bào ngư xào hành, hoặc chỉ đơn giản là bào ngư chụng nước sôi ăn với nước mắm gừng (giống như ăn ốc luộc ở Việt Nam). Có những lần chúng tôi đã ăn bào ngư trụng nước sôi chấm mắm gừng ngay trên bờ biển. Bào ngư vừa bắt lên ăn ngay, rất tươi. Bạn bè ai đã ăn qua bào ngư cũng phải công nhận là thịt bào ngư ngọt, và rất săn chắc. Khi thái mỏng bào ngư mới thấy hết được độ săn chắc của loại hải sản này.

Cũng phải nói thêm rằng, bào ngư hiện nay được xếp vào loại được bảo vệ nghiêm ngặt tại Úc. Tuy bào ngư nhiều thế, nhưng một năm chỉ được bắt trong 60 ngày qui định của chính phủ. Ngoài ra, mỗi lần chỉ được bắt tối đa là 5 con, trong đó không quá 2 con bào ngư xanh. Hiện tại ở biển Melbourne đang có một loại virus có tác hại rất lớn đến bào ngư, khiến cho bào ngư chết hàng loạt. Chính phủ Úc cũng chưa có biện pháp nào hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng này. Tuy vậy, loại virus này được cho là không có tác hại đến con người (ý là người ăn bào ngư :) ).

Đi hái nấm trong rừng thông

Viết lại chuyến đi hái nấm và nghỉ tại Hepburn Spring/Daylesford vào tháng 6, 2007.

Nhớ lại hồi xưa, đọc sách và xem tranh ảnh của Nga, thấy mọi người mùa thu rủ nhau vào rừng hái nấm với dâu tây. Hồi ấy cứ nghĩ những chuyện ấy chỉ có trong truyện cổ tích. Mà quả thật cũng mãi cho đến năm ngoái, chúng tôi mới lần đâu tiên vào rừng hái nấm. Bắt đầu là từ anh bạn Tommy làm cùng ở Connell với Dương. Anh bạn này rất đặc biệt, biết rất nhiều thứ về Australia, ví dụ như câu cá (nước mặn & nước ngọt), đi săn hươu, đi trượt tuyêt…, và đi hái nấm. Gia đình Tommy di cư sang Australia từ Croatia vào những năm cuối thập niên 50 (mấy anh chàng Croatia trong đội bóng đá của Úc, Socceroo, cũng đều là anh em họ hàng quen biết của Tommy). Trong một lần nói chuyện, Tommy có nói với tôi về truyền thống hái nấm vào mùa thu của gia đình. Mỗi năm một lần, vào khoảng đầu tháng 5, nghĩa là giữa mùa thu của Australia, cả nhà Tommy rồng rắn vào rừng thông hái nấm về để dành cho cả một năm (họ có những biện pháp xử lí riêng, để có thể giữ được nấm trong suốt cả năm mà không bị hỏng). Sau khi đã có những thông tin cần thiết, chúng tôi quyết định cũng thử vào rừng hái nấm. Thực ra khu rừng ấy nằm cạnh vùng suối nước nóng nổi tiếng của Melbourne, Hepburn/Daylesford, nên chúng tôi có thể hái nấm kết hợp với đi nghỉ ở Hepburn luôn.

Trên đường đi đến Hepburn, trời mưa mù mịt, nhưng cũng là do mưa nhiều, độ ẩm cao, nên nấm mọc ra nhiều trong rừng. Đi lạc đường một hồi, cuối cùng chúng tôi cũng vào đến khu rừng cần phải đến. Thông ở đây được trồng để khai thác, hàng lối rất nghiêm chỉnh. Và nấm, ôi thôi là nấm, đúng là như nấm mọc sau cơn mưa.Tuy đã được Tommy đưa cho bức ảnh chụp loại nấm ăn được, chúng tôi vẫn tương đối lo. Cũng phải thôi, nếu bạn lỡ ăn phải loại nấm không thân thiện lắm thì hậu quả sẽ là không tưởng tượng nổi. Ví dụ như mấy cái nấm đỏ này, trông đẹp nhưng nhìn chung là không nên ăn thử :)

Thật may, chúng tôi lại gặp hai vợ chồng người châu Âu đang hái nấm trong rừng. Được họ chỉ cho loại nấm cần hái, cộng với tấm ảnh của Tommy đưa cho, chúng tôi tự tin hơn và bắt đầu cuộc tìm kiếm.Lúc đầu, hái được nấm không phải dễ. Cái loại mà chúng tôi tìm, tên là Milky Saffron, có màu da cam, toàn nấp ở dưới mặt cỏ, tìm mãi mới thấy một cái nấm.

Thực ra trong rừng thông còn một loại nấm nữa cũng ăn được, có tên gọi là Slippery Jack bởi vì trên bề mặt nấm có một lớp chất nhờn rất trơn. Loại này thì nhiều vô kể, nhưng nhìn không cảm tình nên chúng tôi không hái.


Nhưng càng tìm, càng có kinh nghiệm, thì việc hái nấm càng trở nên dễ dàng hơn. Sau khoảng 1 tiếng đồng hồ, chúng tôi đã hái được một giỏ nấm to, người thì ướt như chuột lột. Lúc sau lái xe tiếp vào sâu bên trong, thì ôi trời ơi, Milky Saffron nằm la liệt trên bãi cỏ J Chẳng bù cho lúc nãy, tìm mãi mới thấy. Nhưng đúng là tìm mãi mới thấy thì vui hơn nhiều. Sau đó, chúng tôi lái xe về cái nhà đã thuê tại Hepburn và chuẩn bị một bữa cơm tối thịnh soạn J

Wednesday, January 9, 2008

New Zealand Du Ký (Phần 2)

Đường từ Fox Glacier về Queenstown rất đẹp. Con đường thường chạy song song với những con suối lớn tung bọt trắng xóa, đôi khi địa hình thay đổi đột ngột, những dòng suối biến thành những ngọn thác lớn. Thi thoảng, khung cảnh lại mở rộng đột ngột, những con đường bỗng chốc cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa những thung lũng mênh mông, những con suối nhỏ bỗng chốc trở thành những dòng sông lớn chảy xiết, hai bên bờ đá cuội lổn nhổn. Phía xa xa, những ngọn núi tuyết phủ trắng xóa, nổi bật trên nền trời không lẫn vào đâu được.


Nhưng ấn tượng nhất có lẽ là đường núi vào gần đến Queenstown, trên xe lúc ấy, cả hai chúng tôi nhiều lúc lạnh hết cả sống lưng. Con đường núi rất hẹp, quanh co, một bên là vách núi, một bên là mép vực, cảm giác chênh vênh, chống chếnh, nhiều lúc hồi hộp toát mồ hôi hột. Vượt qua đọan đường thử thách trên, chúng tôi tiến vào Queenstown, cảm giác như những người chiến thắng. Queenstown là thành phố đẹp nhất, đáng yêu nhất tại New Zealand mà chúng tôi đã từng đến. Thành phố nằm bên bờ một con sông vào loại khủng long (Wanatipu, dài 87km), màu xanh tuyệt đẹp. Bên kia bờ sông, đối diện với thành phố, là những dãy núi trùng điệp, có một số đỉnh phủ băng trắng xóa. Địa hình lồi lõm của đường bờ sông làm cho cảnh vật thành phố trở nên rất thú vị, nhiều ngôi nhà có mặt hướng ra sông. Mặc dù đến nơi đã rất mệt, nhưng vì tiếc cảnh đẹp, nên hai chúng tôi vẫn cố gắng lái xe lên đỉnh núi để quay cảnh Queenstown từ trên cao trước khi về nghỉ tại YHA Lake Front, khu nhà trọ giá cả vừa phải giành cho những khách du lịch với túi tiền hạn chế. Được một cái hay là nhà nghỉ ở New Zealand, bất kể đắt rẻ, đều tiện nghi (đặc biệt là nhà bếp) và rất thuận tiện cho người du lịch. Buổi tối hôm ấy, chúng tôi ăn phở khô, và cuốn sushi chuẩn bị cho bữa trưa hôm sau.
Theo kế hoạch, buổi sáng hôm ấy chúng tôi sẽ đến Glenochy, 45 phút lái xe về phía bắc của Queenstown, để đi tour dọc theo sông Dart (tour này tương đối nổi tiếng tại Queenstown, rất nhiều cảnh trong bộ phim Lord of the Ring đã được quay tại đây). Tuy nhiên, thời tiết không ủng hộ chút nào, mây mù dăng kín trời, mưa nặng hạt dần. Chúng tôi quyết định hủy chuyến đi này, và lái xe đến thẳng điểm tiếp theo của cuộc hành trình : Milford Sound. Tuy vậy, chúng tôi cũng được thưởng thức cảnh đẹp ngoạn mục của dòng sông Wanatipu trên đường từ Glenochy về Queenstown. Về đến YHA, chúng tôi tranh thủ nấu cơm ăn trưa, cắm điện cho máy quay phim rồi mới lên đường. Ra khỏi Queenstown một chút chúng tôi lần đầu tiên mới thấy những xe cảnh sát nằm bên đường để bắn tốc độ. Cảnh vật hết sức đặc trưng của New Zealand lại hiện ra trước mắt: thảo nguyên xanh mướt (ngày mưa mà máy tưới nước vẫn hoạt động?), và cừu, cừu và cừu. Cừu nhởn nhơ gặm cỏ trên cánh đồng, trên thảo nguyên, trên những sườn núi. Nhìn xa ngỡ như những hạt gạo mà một người khổng lồ vung tay ném xuống. Sao cừu nhiều thế mà thịt cừu ở New Zealand vẫn đắt nhỉ ( trong siêu thị là $29/kg, trong khi o Footscray chợ người Việt tại Úc chỉ có $21/kg).

Trời mưa lớn dần, rồi mưa tầm tã, mưa trắng cả không gian, nhiều lúc không còn nhìn thấy đường đi, phải lái xe chậm lại. Được cái cả hai đứa đều đồng ý với nhau là cũng không đến nỗi tệ, mưa bây giờ còn tốt hơn là lúc đến Milford Sound trời lại mưa. Một kiểu đại loại như ông đã không làm gì được thì kệ, muốn đến đâu thì đến J. Thật không ngờ, đấy lại là cái may mắn mà không phải ai đến Milford Sound cũng có được. Cách Milford Sound khoảng 30 km, chúng tôi đã thoáng thấy những dòng thác trắng từ trên núi đổ xuống. Đường bắt đầu khó đi, nhiều lúc đường hẹp chỉ một xe chạy được, trời mưa quá không nhìn được biển báo, lúc đến gần mới thấy xe ngược chiều chạy đến, thế là phải lái xe lùi trở lại (nghĩ lại cũng thấy hơi ghê ghê). Lái xe đến một khúc quanh, đột nhiên, một cảnh tượng kì vĩ hiện ra trước mắt: có đến hàng chục, hàng trăm ngọn thác lớn nhỏ, tựa như những dải lụa trắng ai đó đang trải xuống từ trên những đỉnh núi đầy sương phủ. Nhiều thác quá, chưa bao giờ chúng tôi nhìn thấy nhiều thác nước một lúc như thế. Về đến nơi ở là Milford Sound Lodge, bốn phía xung quanh nhà là núi và thác nước, đằng sau khu nhà ở là một dòng sông chảy dữ dội như một dòng nước lũ. Mưa vẫn chưa ngớt, từng đợt từng đợt dội xuống, trắng trời trắng đất.Sáng ra tỉnh dậy, những dòng thác đã nhỏ hơn nhiều so với chiều hôm trước, dòng nước sau nhà cũng trở nên hiền hòa hơn. Và chúng tôi hiểu tất cả những cảnh tượng hùng vĩ hôm qua được chứng kiến là kết quả của cơn mưa khủng khiếp mà chúng tôi gặp trên đường. Thế là tưởng đen đủi, hóa ra lại may mắn, đúng là may rủi không thể biết trước được. Cũng phải nói thêm là chỗ ngủ tại Milford Sound tồi tệ nhất trong cả chuyến đi, chúng tôi không thể đặt được phòng riêng, thế là phải ở cùng hai người nước ngoài (giường tầng, giống kí túc xá ở Việt Nam).


Buổi sáng hôm sau trời đẹp, cao và xanh trong. Chúng tôi khấp khởi đi ra bến cảng để lên tàu du ngoạn xung quanh Milford Sound. Quả là đẹp, đẹp thật. Cảnh vật rất giống như vịnh Hạ Long của Việt Nam: Những quả núi cây cối xanh tươi nằm giữa vùng sông nước mênh mông. Có những đỉnh núi phía xa còn được băng phủ trắng trên đỉnh, trông rất quuyến rũ. Trên đường đi, chúng tôi còn ghé thăm chỗ phơi nắng của những chú hải cẩu rất đáng yêu, nghiêng ngó nhìn khách du lịch với đôi mắt tò mò nhưng không có vẻ gì là sợ hãi. Có một đoạn, tàu lái vào rất gần một thác nước lớn đổ từ trên đỉnh núi xuống, tạo ra những luồng gió mạnh, lẫn với những hạt nước nhỏ li ti, quét mạnh qua bong tàu. Một cảnh tượng rất thú vị. Trước khi về đến bến, tàu còn ghé vào thăm quan một khu giới thiệu cảnh quan dưới nước, rất đặc biệt. Nhờ đó, chúng tôi hiểu thêm rất nhiều điều về Milford Sound. Khu du lịch này được tạo thành bởi một kết cấu dạng tàu, nổi trên mặt nước, được cố định bằng những thanh thép lớn khoan chặt vào núi. Phần chìm dưới nước có lắp các tấm thủy tinh đặc biệt được sản xuất tại Đức (dày 120mm), ánh sáng đi qua tấm thủy tinh hoàn toàn không bị bẻ cong, thế nên hình ảnh nhìn qua những tấm thủy tinh này hoàn toàn chân thực, không bị thay đổi về kích thước cũng như hình dạng. Trong lúc nhìn ngắm cảnh dưới nước, chúng tôi thấy có hai người thợ lặn đang lau mặt kính bên ngoài. Nước ở Milford Sound có hai tầng, tầng trên màu nâu vàng là nước ngọt, có độ dày theo đổi tùy theo lượng nước đổ từ trên các sông suối trên núi (phụ thuộc vào lượng mưa). Lớp nước phía dưới là nước mặn. Điều đặc biệt nữa ở đây là sự hình thành môi trường sống nước sâu tại một nơi không lấy gì làm sâu lắm. Lí do là lớp nước ngọt và đục nổi ở bên trên (do tỉ khối nhỏ hơn nước biển) ngăn chặn phần lớn ánh sáng. Đồng thời, do cấu tạo của địa hình đáy ở vùng này, nước ở Milford Sound rất lặng, hầu như không có chuyển động nào theo kiểu dòng hải lưu trên biển. Kết quả là một số sinh vật chỉ tồn tại ở vùng biển sâu có thể quan sát thấy tại vùng này (ví dụ điển hình là san hô đen). Nói chung, chúng tôi rất ấn tượng với khu du lịch này, mặc dù cũng không có nhiều thời gian lắm để quan sát thêm. Sau khi kết thúc cuộc du hành trên biển ở Milford Sound, chúng tôi trở lại nơi ở, nấu ăn bữa trưa, và lên đường quay ngược trở lại hướng Queenstown, điểm đến là Te Anau, nằm giữu Milford Sound và Queenstown.
Đường từ Milford Sound về Te Anau có rất nhiều điểm du lịch. Đầu tiên, chúng tôi dừng lại chụp ảnh tại một cầu treo. Dòng nước chảy tung bọt trắng xóa khi đi qua những tảng đá cản đường chảy của nó, cây cối xanh rì hai bên, xa xa là ngọn núi cao sừng sững, có băng phủ trên đỉnh. Điểm dừng tiếp theo là Chasm, với lối đi thiết kế rất khoa học, đi một vòng lại quay trở lại bãi đậu xe. Đường đi bộ quanh co uốn lượn qua các thác nước chảy xiết dưới chân, cây cối xanh tươi với và dãy núi băng phủ hùng vĩlàm nền. Tiếp đó là Cascade Creek, một nơi đẹp không thể tưởng được. Dòng suối dòng chảy không lớn lắm, đầu nguồn là một dãy núi lớn, chảy đến đoạn gần đường quốc lộ, suối trở nên rộng hẳn, hai bên bờ, chao ôi là hoa, hoa nhiều không đếm xuể, nào xanh, nào tím, trắng, hồng nhạt. Về sau chúng tôi được biết loài hoa đó có tên là Lupins, thường nở rộ vào mùa hè. Tuy vậy, đây lại là loài hoa không có lợi đối với môi trường, cho nên tại một số nơi, chính phủ New Zealand phải tìm biện pháp để loại bỏ loại cây xinh đẹp này. Nhưng tại thời điểm ấy thì chúng tôi chỉ say sưa với vẻ đẹp hoang dã mà loài hoa này mang lại. Trên đường đi, thỉnh thoảng những thung lũng rộng mênh mông lại đột ngột hiện ra sau những đoạn đường hẹp, làm chúng tôi cảm thấy thật nhỏ bé.
Đến Te Anau, chúng tôi mua một ít thịt cừu cho bữa tối và đổ đầy bình xăng. Sau đó, chúng tôi quay về chỗ nghỉ tối (thực ra là nhầm địa chỉ, chúng tôi đi qua mất chỗ ở hơn 30km). Chỗ ở lần này thật là choáng váng, phòng đẹp, có cả phòng tắm trong nhà, cửa sổ nhìn ra hồ lớn với núi băng ở phía xa xa, và đặc biệt là giá rất phải chăng. Chúng tôi ngồi ngắm cảnh và nghỉ ngơi, sau đó nấu ăn tối, và chuẩn bị cho chuyến đi về lại Queenstown vào sáng sớm hôm sau.

Trên đường về Queenstown, chúng tôi quyết định thay đổi một số kế hoạch. Đầu tiên là sẽ không đi về farm ở Lake Tekapo, sau đó là thay đổi kế hoạch đi Dart River bằng kế hoạch đi Jet Boat trên sông Shortover (canô tốc độ cao), thêm vào đó là đi Gondola (cáp treo) tại Queenstown và dạo chơi nhiều hơn ở Queenstown. Trước khi đi Gondola, HồngLê có sáng kiến là đi xem mọi người nhảy Bungee, một loại hình chơi mạo hiểm, người chơi được buộc dây vào chân và nhảy xuống từ trên một chiếc cầu cao khoảng 100m. Đây là trò chơi rất được ưa chuộng tại New Zealand. Chúng tôi thực sự rất ấn tượng. Cầu nhảy là một cầu dây cáp treo, bắc ngang qua một con sông tuyệt đẹp có màu xanh ngọc, nước chảy xiết. Hai đứa nhìn mọi người nhảy xuống mà cũng thấy toát cả mồ hôi hột. Chúng tôi quay được rất nhiều cảnh nhảy Bungee bằng chiếc video camera mang theo. Sau khi xem bungee jump, chúng tôi lái xe ngược lại phía đường ngoằn nghèo từ trên núi xuống Queenstown mà hôm trước hai đứa vừa lái xe qua vừa hồi hộp. Nhưng có lẽ đã đi qua một lần, lần sau cũng không còn cảm giác hồi hộp nữa. Sau đó chúng tôi đi thăm Gondola. Gondola tại Queenstown là cáp treo đẹp nhất mà chúng tôi đã từng đi. Càng lên cao, cảnh thành phố hiện ra càng đẹp và quyến rũ hơn. Bên cạnh đường cáp treo là một khu rừng thông tuyệt đẹp, cây thông thẳng đứng, cao có đến hàng chục mét. Toàn cảnh Queenstown hiện ra trước mắt: Dòng sông Wanatipu xanh biếc, in bóng những dãy núi trùng điệp. Nhà cửa san sát, kéo dài từ lưng chừng núi xuống tận mép hồ. Núi rừng sông suối hòa quyện trong một bức tranh tuyệt mĩ của tự nhiên. Sau khi đi Gondola, chúng tôi trở về khách sạn lấy chìa khóa phòng rồi đi ăn tối tại Queenstown. Bữa tối tại quán ăn Xương Cá (Fishbone) này cũng thật đáng nhớ, với món mussel xanh nấu với rượu và tỏi, ăn rồi nhớ mãi không quên. Còn món bánh mì tỏi ở quán này thì có lẽ là ngon nhất trong số những loại bánh mì tỏi mà chúng tôi đã từng ăn trước đây. Hồng Lê rất thích cách bài trí của Fishbone, với hình tượng cá được trang trí khắp nơi trong quán. Ăn uống no say, chúng tôi trở về YHA nghỉ tối, chuẩn bị cho chuyến đi vào ngày hôm sau.

áng dậy, ăn uống xong xuôi, xe của côngty Jet Boat đến đón đi thuyền tốc độ cao trên sông Shortover. Đây là một dòng sông rất đẹp, nước sông có màu xanh ngọc rất đặc biệt (do một loại khoáng chất tại vùng này). Đây cũng chính là dòng sông nơi có trò chơi Bungee Jump mà chúng tôi tới thăm hôm trước. Xe đi 45 phút lên phía bắc mới tới địa điểm để lên tàu. Và đây có lẽ chính là quãng đường để lại nhiều ấn tượng mạnh nhất trong cả chuyến đi New Zealand, về độ nguy hiểm. Sau khi đã lên được một độ cao tương đối so với mực nước biển, xe rẽ vào một đường sỏi đá với biển báo, chỉ có những xe do những côngti du lịch được cấp phép mới được lái vào. Thật vậy, nếu bây giờ cho chúng tôi một chiếc xe tốt và một khoản tiền lớn, chúng tôi chắc chắn là sẽ từ chối lái xe trên con đường sỏi đá ấy. Đường được đục ngang qua vách núi, được xây dựng bởi những người đi tìm vàng từ cuối thế kỉ 19, giờ được gọi là Skipper Road. Một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm. Thi thoảng đến những chỗ cua gấp, đầu xe như chồm hẳn xuống vực rồi lại ngoặt ngược trở lại (lái kiểu như thế để đuôi xe không bị quệt vào vách đá). Người ngồi bên phía lái xe nhiều lúc nhìn ra cửa sổ, nhìn xuống không thấy đường mà chỉ thấy vực thẳm ngay phía dưới. Phía đối diện phía bên kia vực thẳm là những dãy núi lồi lõm, được phủ bởi một loại cỏ màu vàng tươi. Thi thoảng lại thấy một đàn bò, hay một bầy cừu gặm cỏ thong dong trên cánh đồng cỏ lạ lùng ấy. Sau một lúc lái xe, chúng tôi đã có thể thấy dòng sông Shortover lúc ẩn lúc hiện ở dưới đáy vực. Xe bắt đầu lại xuống phía dưới để đến được một bên bờ sông. Đó là một bãi phẳng, khá rộng, đầy những viên đá to hinh quả trứng, bề mặt nhẵn nhụi do bị nước bào mòn. Sau khi mặc áo phao, chúng tôi lên chiếc canô siêu tốc. May sao cả hai đứa được ngồi ngay ghế đầu tiên, cạnh người lái. Tàu bắt đầu tăng tốc, chao ôi là thích. Chúng tôi đi như bay ngược dòng nước đang chảy xiết. Núi hai bên cứ lướt qua vùn vụt, cảnh vật thay đổi liên tục như trong một thước phim quay nhanh. Có lúc, người lái giơ tay lên cao báo hiệu sắp thực hiện một cú quay 180 độ, thế là ầm một cái, tàu đang phóng nhanh như đâm thẳng vào vách đá, bỗng quay ngoặt 180 độ một cách ngoạn mục. Chúng tôi lướt qua những vách đá, những cánh rừng xanh thẳm, và một lúc lướt qua một chiếc cầu treo từ ngay xưa để lại, hiện không còn được sử dụng. Lúc quay về xuôi dòng nước, tốc độ tàu có lúc lên đến 80 km/giờ. Một chuyến đi thật ấn tượng, không quên được. Sau khi kết thúc chuyến đi Jet Boat, chúng tôi bắt đầu một chặng đường lái xe dài nhất trong cả chuyến đi, từ Queenstown lái về Christchurch, 484 km. Ấn tượng nhất trên đường từ Queenstown về Christchurch là hồ Tekapo, một vẻ đẹp tương đối giống với hồ Wanaka, cộng với những thảm hoa lupins đủ màu sắc.
Chúng tôi về đến Christchurch vào khoảng 7h tối. Phải đến tận lúc này, chúng tôi mới có dịp để nhìn Christchurch kĩ hơn (hôm đầu bay đến, ngủ một đêm rồi lại đi ngay). Thành phố này nhỏ và xinh xắn, với những ngôi nhà kiến trúc kiểu Anh, nhiều nhà thờ, và một dòng sông hiền hòa chảy trong lòng thành phố. Thành phố có một quảng trường trung tâm tương đối rộng. Nhưng đi khoảng 3 tiếng đồng hồ là hết Christchurch, thành phố nói chung là quá nhỏ bé. Chúng tôi ngủ lại Chrischurch 2 tối. Tối đầu tiên ở một khu nhà rất đẹp ngay trong trung tâm, cửa sổ nhìn ra gác chuông đồng hồ và trạm xe điện (gợi nhớ đến Melbourne, và xa hơn một chút về quá khứ là Hà Nội).
uổi sáng thức dậy, sau khi đi hết cả thành phố Christchurch, chúng tôi quyết định lái xe đến thị trấn biển Akaroa, nằm về phía đông nam cách Christchurch khoảng 90km. Đây là một thị trấn mang đậm dấu ấn của Pháp, tên nhiều cửa hàng và phố xá bằng tiếng Pháp. Thị trấn rất xinh xắn, với con đường chính chạy vòng quanh biển. Các cửa hàng ăn trong rất có phong cách, với những bồn hoa tươi thắm đặt trên những chiếc xe đạp cũ. Chúng tôi thuê một chiếc thuyền nhỏ đạp ra biển chơi. Cảnh thị trấn nhìn từ biển vào có một vẻ đẹp khác hẳn khi mà ta đi dạo trên những con đường bên trong thị trấn. Chúng tôi kết thúc chuyến thăm ngắn ngủi tại Akaroa bằng một bữa trưa rất ngon tại một nhà hàng mang đậm phong cách Pháp.

Quay trở về Christchurch, chúng tôi chuyển đến một chỗ ở mới, cũng không xa chỗ cũ là mấy, nhưng phòng thì không đẹp bằng. Tối hôm ấy về mệt quá, cuối cùng hai đứa lăn ra ngủ thay vì ra quảng trường để xem bắn pháo hoa. Sáng sớm thức dậy, chúng tôi ra thăm vườn bách thảo của Christchurch và chèo thuyền dọc theo dòng sông. Cảnh vật đẹp và thanh bình, rất nhiều vịt trời bơi trên sông, hai bên bờ có rất nhiều liễu. Sau đó, chúng tôi đến thăm một khu vườn có tên là MonaVale, có kiến trúc thời Elizabeth với vườn hoa, sông hồ và những thảm cỏ xanh biếc. Trước đây MonaVale thuộc về tư nhân, hiện giờ được thành phố quản lí. Sau đó, chúng tôi lái xe ra sân bay để bay trở về Melbourne, kết thúc một chuyến đi New Zealand đầy kỉ niệm.



Sunday, January 6, 2008

Flinders-Mornington Peninsula

Both of us love being outside. Thought we only have 4 more weeks to enjoy ourselves before the school starts, we decided not to waste any weekend staying home. In fact, we have never rested at home since returning from New Zealand. Our favorite place this time is Flinders down in Mornington Peninsula. We love it because of its relaxing atmosphere, amazing scenery and especially, we can get heaps of anything that is on the seafood menu such as abalones (greenlip/blacklip), crabs and many types of fish.

However, after a few times travelling up and down in the last 2 weeks, we have learnt that this is only a great spot for snoggling or fishing as long as you make sure you pick your day right. The first time Duong went there with his 2 friends, the water was super clear. He got 5 abalones about 12 cm each and he was only in the water for a short while. But then when we returned the next day to the exact same spot to try some luck with crab, it was too windy and the waves were too strong to get into the water. When we returned the second time early next Saturday, the water was a bit misty, just good enough to see a few things but not able to catch anything. So like I said, you just have to pick the right day to go to Flinders.

Not to waste the trip, I decided to pose some pictures of myself as usual.
On the way back, we stopped to take picture of the farms along the road which have a lot of hay bails. The scenery was stunning.There were 4 beautiful horses running freely on the field. As we were looking at them, the horses also found us quite attractive so they came closer to the fence gazing at us, not once but several times.
And here are some more pictures on the second trip...
Duong was ready for diving, looking optimistic as if we definitely were going to have some abalonies for dinner.
And off he went
this is Duong half an hour later

So in stead of crab or abalones, we had the best strawberry icecream at the Sunny Ridge, a strawberry farm nearby.


Saturday, January 5, 2008

New Zealand du kí (Phần 1)

Có thể nói, ngày đầu tiên cua chuyến đi New Zealand tương đối sóng gió. Đầu tiên là việc quên tập tài liệu chuẩn bị cho chuyến đi tại sân bay Melbourne, tập tài liệu có chứa tất cả thông tin về chuyến đi, nơi ở, các tour du lịch, lịch bay và bản đồ New Zealand. Thế nên hậu quả là tại sân bay quốc tế Christchurch, Dương phải thức đến 3h sáng để vào Internet và ghi lại toàn bộ lịch trình của chuyến đi. Buổi đêm tại sân bay Christchurch cũng là một kỉ niệm đáng nhớ. Với sự chuẩn bị kĩ càng, bao gồm mì tôm các loại, ấm đun nước điện, bát đĩa, thìa đũa, hai đứa đã có một bữa tối nóng sốt (chắc là mấy anh bạn nước ngoài ngồi cạnh thèm rỏ rãi, vừa gặm bánh mì vừa chửi thầm trong miệng). Có một điều thú vị của các sân bay New Zealand, đó là các du khách nước ngoài (du lịch ba lô) rất khoái ngủ lại tại sân bay (chờ chuyến bay tiếp theo hoặc đợi đến sáng để tiếp tục du lịch). Sân bay thường là ấm áp hơn hẳn bên ngoài, các cô các chú cảnh sát rất thân thiện, không có ăn trộm, thậm chí đến 2h sáng, sân bay còn tắt một số đèn cho mọi người ngủ ngon hơn (và bật lại đèn vào khoảng 6h sáng). Dương Lê cũng đánh liều làm một giấc (Lê ngủ được khoảng 4 tiếng đồng hồ, Dương thì chỉ khoảng 2 tiếng), sáng dậy ra lấy xe ôtô (đã được đỗ ở sân bay) để bắt đầu cuộc hành trình. Xe cộ cũng có một vài trục trặc, côngti cho thuê xe không hiểu sao lại không đỗ chiếc xe mà mình đã đặt trước tại địa điểm qui định, cuối cùng chúng tôi quyết định lấy đại một chiếc đã đỗ ở đó (của côngti nói trên), với bình xăng chỉ còn một nửa. Đó thực ra là xe vừa được khách trả lại vào đêm hôm trước.

Ấn tượng đầu tiên về New Zealand là màu xanh đến mướt mắt của cỏ, cây cối và sự đông đúc của cừu. Trên những thảo nguyên bao la, kéo dài đến tận chân những dãy núi trùng điệp, từng đàn cừu lớn tha thẩn gặm cỏ, mang lại một cảm giác thanh bình đến kì lạ. Tuy vậy, có một đoạn đường tương đối dài với cảnh vật khá đối nghịch. Những sườn núi bị xói mòn, trơ ra đến tận những lõi đá khô khốc, trải dài trên một diện tích rộng, với độ dốc khá lớn, làm ta liên tưởng đến những thành phố đổ nát sau một trận động đất kinh hoàng, sự sống gần như bị hủy diệt hoàn toàn.

Càng đi gần đến vùng núi băng (Glacier, đích tiếp theo của chuyến đi), cây cỏ càng xanh và dày đặc hẳn lên. Trước khi đi vào hẳn vùng núi băng, chúng tôi dừng lại đổ xăng tại cửa ngõ của Joseph Glacier, và được người bán hàng thông báo rằng chỉ 2 den 3 km nữa là có thể nhìn thấy đỉnh núi băng. Quả thật, đi được 5 phút, những đỉnh núi băng trắng xóa bắt đầu hiện ra, ngày càng rõ nét. Băng khiến cho những đỉnh núi trở nên hấp dẫn và đẹp hơn hẳn, tựa như một cô gái đẹp với một trang sức sang trọng. Có một đỉnh núi thật đặc biệt, băng kéo dài xuống đến tận chân núi, tựa như một dòng thác lớn đổ từ trên đỉnh núi (lúc đầu chúng tôi bị nhầm như thế). Đi thêm 30 phút, cuối cùng chúng tôi cũng đến được đích của ngày đầu tiên, Fox Glacier. Trời bắt đầu đổ mưa, cảnh vật trở nên xám xịt và ảm đạm.

Mệt, rất mệt, mệt kinh khủng. Đúng là sau khi ngủ có vài tiếng đồng hồ và đi một quãng đường dài 500km, hai đứa mệt lử đử. Sau một bữa tối nhanh chóng, gồm cơm và trứng sốt cà chua (chuẩn bị trong vòng 20 phút), hai đứa lăn ra ngủ như chết cho đến sáng hôm sau. Chúng tôi bị đánh thức bởi những hồi còi báo động chói tai, CHÁY, CHÁY RỒI, TẤT CẢ MỌI NGƯỜI RA KHỎI KHU NHÀ NGAY LẬP TỨC. Có lẽ đây là lần mặc quần áo nhanh kỉ lục nhất của riêng tôi. Chúng tôi bật dậy, mặc quần áo vội vàng trong 1 phút và chạy khỏi khu nhà. Khi ra khỏi khu nhà, chúng tôi được biết một chị Hàn Quốc đã nướng bánh mì bị cháy, làm cho thiết bị báo cháy bị kích hoạt (sau này nói chuyện, tôi được biết chị Hàn Quốc này đã sang New Zealand được 6 năm, và làm nghề y tá, và luôn mong có ngày trở về cố hương). Sau đó, mọi người lại lục tục đi vào phòng, ngủ tiếp J. Chúng tôi giải quyết bữa sáng nhanh gọn (cơm&trứng rán). Trong lúc Hồng Lê chuẩn bị bữa sáng, Dương phụ trách cuốn sushi để ăn trưa (chúng tôi chuẩn bị rất đầy đủ, gạo Nhật, dấm Nhật, rong biển để cuốn sushi, xì dầu Nhật và mành tre dùng để cuốn sushi). Do dậy sớm vào buổi sáng, trước khi leo núi băng, chúng tôi còn có thời gian chạy đi thăm hồ Matheson, cũng là một điểm du lịch tại khu vực này. Thực sự đó là một nơi rất đẹp: dòng suối róc rách chảy qua cánh đồng cỏ rộng lớn, xuyên qua khu rừng và đổ vào hồ Matheson. Phía xa xa, những ngọn núi băng phủ trắng đỉnh hiện lên sừng sững, nổi bật trên nền trời xanh trong, in bóng xuống mặt hồ phẳng như một tấm gương lớn. Mặt trời vẫn chưa lên cao, sương vẫn chưa tan hết, bay là là trên mặt hồ như một làn khói mỏng màu trắng đục. Nếu có dịp trở lại, nhất định chúng tôi sẽ giành nhiều thời gian hơn để có những bức ảnh đẹp hơn của hồ Matheson.

Sau khi ngắm hồ xong, chúng tôi vắt chân lên cổ để chạy về cho kịp chuyến đi leo núi băng đã đặt từ Melbourne. Trước khi lên xe, mọi người đều phải đi tất và giầy do côngti tổ chức leo núi cung cấp. Giầy được thiết kế đặc biệt để có thể buộc một thiết bị giống như móng thép để có thể đi trên mặt băng mà không bị trượt. Cả đoàn lên xe và bắt đầu khởi hành. Thành phần đoàn rất phong phú, bao gồm người đến từ Pháp, Đức, Anh, Hà lan, Isareal, Úc và Vietnam. Con đường dẫn đến núi băng chạy song song với một dòng sông chảy rất mạnh. Sau nay chúng tôi được biết, dòng sông này chính là nước tan ra từ núi băng chảy xuống mà thành. Quang cảnh tại chân núi băng rất ngoạn mục: những vách đá dựng đứng như những bức tường thành, cao có đến hàng trăm mét. Theo người hướng dẫn du lịch, Glacier vẫn đang tiếp tục phát triển, tuyết rơi trên đỉnh núi thành nhiều lớp, được nén lại thành băng và đẩy lớp băng đang tồn tại xuống phía dưới chân núi. Tốc độ di chuyển của những khối băng xuống phía chân núi vào khoảng 5km/năm. Tất nhiên là lớp băng dưới chân núi cũng tan ra, nhưng với tốc độ thấp hơn tốc độ hình thành những lớp băng mới. Chúng tôi theo chân người hướng dẫn trèo ngang qua sườn núi để leo lên trên bề mặt của Glacier. Đường đi khá hiểm trở, phải mất đến khoảng 40 phút cả đoàn mới chạm được đến mặt băng. Trên đường đi, Dương đã kịp lấy đầy một bình nước suối để uống (người dẫn đường cho biết nguồn nước này tinh khiết và có thể uống được). Nước mát lạnh, và rất trong lành. Cuối cùng thì cũng đã đến nơi cần phải đến, mặt băng của Glacier. Đây là một trong hai nơi duy nhất trên thế giới, khi mà băng hà tồn tại ngay bên cạnh rừng nhiệt đới (nơi còn lại là trong một khu rừng quốc gia của Argentina, gần biên giới với Chilê). Thật thú vị khi đang đi xuyên qua rừng nhiệt đới, nhìn xuyên qua kẽ lá lại thấy những đỉnh núi băng tuyết, một sự kết hợp rất đặc biệt của thiên nhiên. Giờ đây, trải dài trước mắt chúng tôi là một màu trắng đến lóa mắt của khối băng khổng lồ, dày 150m, chạy từ chân núi cho đến tận đỉnh núi. Có những lớp băng lâu năm, màu trắng chuyển dần thành một màu xanh ngọc rất đẹp (băng lâu năm đóng vai trò như một kính lọc sắc, chỉ để cho màu xanh đi qua). Tôi thử bốc một nắm băng vụn lên ăn, nó giống hệt như lớp đá đóng trong tủ lạnh.Phía xa xa, chúng tôi có thể nhìn thấy một vài người đang leo lên những vách băng thẳng đứng, kiểu như leo núi (với những dụng cụ chuyên dụng). Trèo lên mặt băng được một lúc, chúng tôi nghe thấy những tiếng động ì ầm từ xa vọng lại, nghe như tiếng mìn phá đá. Theo người dẫn đường, đó là băng lở ở phía bên kia sườn núi. Nhìn chung, chúng tôi rất hài lòng với chuyến leo núi băng này, một kinh nghiệm hoàn toàn mới lạ, chưa từng được trải nghiệm trước đây. Chúng tôi trở về nơi xuất phát vào 1.30 chiều. Sau khi ăn trưa (sushi được chuẩn bị từ sáng), chúng tôi lại bắt đầu lái xe về đích tiếp theo của chuyến đi: Queenstown, khoang 430km về phía nam cua Fox Glacier.


Friday, January 4, 2008

Our first entry

Hello...Happy New Year to everyone!

Yep we started a blog as one of our new year resolutions.

Actually, we've been meaning to start an online journaling blog to keep us connected with everyone on what we are doing and where we are getting up to as a family for awhile but got carried away by so many other things in our busy life.

In this blog, we hope to share with you our thoughts and inspirations, beautiful things we come across and our journey in life. We will try to make an entry regularly with pictures and possibly video when we can so stay tunned.

We have just come home from 8 days trip to the South Island in New Zealand. The trip was fantastic and we love everything about New Zealand except the sand flies which left us itching until now. We will be posting intermittently our trip stories over the next week. In the mean time, you might want to check out the photos in this link
http://s263.photobucket.com/albums/ii133/dhle80/New%20Zealand%20Trip%202007/?albumview=slideshow

We hope you are having/ have had a lovely festive season. We'd love to hear what you've all been getting up to!!

Big smiles to all!